TIN TỨC

Tin tức sức khỏe,
thông báo về DYM

XƠ PHỔI SAU LAO: NGUYÊN NHÂN, BIỂU HIỆN, CHẨN ĐOÁN VÀ HƯỚNG ĐIỀU TRỊ

Tin tức
Feb 26, 2026
Main image

Tổng quan về xơ phổi sau lao

Xơ phổi sau lao là tình trạng mô phổi bị tổn thương và hình thành sẹo xơ sau khi bệnh lao phổi đã điều trị khỏi. Dù vi khuẩn lao đã bị tiêu diệt, các tổn thương viêm và phá hủy mô phổi để lại sẹo xơ, dày dính và mất đàn hồi, khiến phổi giảm khả năng trao đổi khí.

Đây là di chứng mạn tính của lao phổi, gặp ở khoảng 20–30% bệnh nhân sau điều trị lao, đặc biệt ở những người từng bị tổn thương lan tỏa, điều trị muộn hoặc tái phát nhiều lần.

Cơ chế hình thành xơ phổi sau lao

Trong quá trình nhiễm lao, vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây viêm phá hủy mô phổi, hình thành các ổ hoại tử bã đậu và hang lao. Khi điều trị, các tổn thương này dần lành lại bằng mô sợi (xơ hóa), thay thế mô phổi bình thường.

Hậu quả là:

  • Giảm thể tích phổi, đặc biệt ở vùng đỉnh phổi.

  • Giảm độ đàn hồi phổi, làm bệnh nhân khó hít sâu.

  • Giảm trao đổi oxy, dẫn đến khó thở mạn tính.

  • Có thể kéo theo giãn phế quản, xẹp phổi hoặc tăng áp động mạch phổi về lâu dài.

Yếu tố nguy cơ

  • Từng mắc lao phổi nặng, lao hang, lao đa kháng thuốc.

  • Điều trị lao muộn, không đủ phác đồ hoặc bỏ dở giữa chừng.

  • Nhiễm trùng phổi lặp đi lặp lại trong quá trình điều trị.

  • Hút thuốc lá, ô nhiễm môi trường, tiếp xúc khói bụi kéo dài.

  • Suy dinh dưỡng, bệnh phổi mạn tính (COPD, giãn phế quản).

Triệu chứng lâm sàng

Tùy mức độ xơ hóa và vùng phổi bị tổn thương, người bệnh có thể có:

  • Khó thở kéo dài, đặc biệt khi gắng sức.

  • Ho khan hoặc ho có đờm dai dẳng.

  • Đau ngực âm ỉ, nhất là vùng từng bị tổn thương lao.

  • Ho ra máu lẫn đờm (do giãn mạch hoặc giãn phế quản kèm theo).

  • Mệt mỏi, sụt cân nhẹ, khả năng lao động giảm.

  • Một số trường hợp nặng có thể xuất hiện tím môi, đầu chi, biểu hiện thiếu oxy máu mạn tính.

Biến chứng có thể gặp

1. Giãn phế quản sau lao

  • Do mô sẹo kéo giãn phế quản lân cận, gây ho đờm và nhiễm trùng tái phát.

2. Tăng áp động mạch phổi

  • Do giảm diện tích trao đổi khí, tăng áp lực máu qua phổi.

3. Suy hô hấp mạn

  • Khi mô phổi xơ hóa rộng, khả năng trao đổi khí bị hạn chế nghiêm trọng.

4. Tái nhiễm lao hoặc bội nhiễm vi khuẩn khác

  • Phổi tổn thương dễ bị viêm tái phát.

Chẩn đoán

1. Khai thác bệnh sử

  • Có tiền sử điều trị lao phổi.

  • Hết điều trị ≥6 tháng nhưng vẫn còn ho, khó thở hoặc tổn thương tồn dư trên phim phổi.

2. Khám lâm sàng

  • Gõ đục vùng tổn thương, rì rào phế nang giảm.

  • Có thể nghe ran nổ hoặc ran ẩm rải rác ở vùng đỉnh phổi.

3. Cận lâm sàng

  • X-quang ngực:

    • Hình ảnh xơ hóa, sẹo kéo co, xẹp vùng phổi trên, đôi khi có vôi hóa hoặc hang cũ đã xẹp.

    • Có thể thấy kéo lệch khí quản hoặc trung thất về bên tổn thương.

  • CT ngực độ phân giải cao (HRCT):

    • Xác định rõ vùng xơ hóa, giãn phế quản, dày dính màng phổi.

    • Loại trừ tổn thương lao tái phát hoặc khối u.

  • Đo chức năng hô hấp:

    • Thường gặp kiểu rối loạn thông khí hạn chế:

      • FVC giảm, FEV1 giảm, tỷ lệ FEV1/FVC bình thường hoặc tăng.
    • Giúp đánh giá mức độ giảm dung tích phổi.

  • Xét nghiệm đờm hoặc GeneXpert:

    • Nhằm loại trừ tái phát lao hoạt động.
  • Khí máu động mạch:

    • Khi nghi ngờ suy hô hấp mạn (PaO₂ < 60 mmHg).

Chẩn đoán phân biệt

  • Lao phổi tái phát (phải loại trừ trước khi kết luận xơ phổi).

  • Giãn phế quản mạn tính không do lao.

  • Xơ phổi vô căn hoặc xơ phổi do bụi nghề nghiệp.

  • Ung thư phổi thứ phát trên nền sẹo lao.

Tham khảo thêm:

CƠN HEN SUYỄN CẤP: TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

NỐT MỜ PHỔI: KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM?

Điều trị

Xơ phổi sau lao là tổn thương không hồi phục, mục tiêu điều trị là làm giảm triệu chứng, phòng biến chứng và cải thiện chất lượng sống.

1. Điều trị nội khoa

  • Thuốc giãn phế quản dạng hít: (salbutamol, tiotropium) giúp cải thiện thông khí.

  • Thuốc long đờm, tiêu nhầy: giảm ứ đọng đờm, phòng nhiễm trùng.

  • Kháng sinh: khi có nhiễm khuẩn tái phát.

  • Corticosteroid ngắn hạn: chỉ dùng trong đợt viêm phổi tái phát nặng có phản ứng viêm mạnh.

  • Liệu pháp oxy: khi có suy hô hấp mạn hoặc giảm oxy máu (SpO₂ < 90%).

2. Phục hồi chức năng hô hấp

  • Tập thở bụng sâu, thở chúm môi, thở cơ hoành, giúp tăng dung tích phổi.

  • Tập vận động nhẹ nhàng: đi bộ, yoga, khí công giúp tăng trao đổi khí.

  • Vật lý trị liệu lồng ngực: hỗ trợ tống đờm, giảm ứ đọng dịch.

3. Điều trị ngoại khoa (khi cần)

  • Áp dụng khi xơ hóa khu trú kèm giãn phế quản, hang cũ hoặc ho ra máu tái phát.

  • Có thể chỉ định cắt thùy phổi hoặc cắt phân thùy phổi bị tổn thương nặng.

Theo dõi và phòng ngừa biến chứng

  • Khám hô hấp định kỳ mỗi 6 tháng, chụp X-quang hoặc CT ngực khi cần.

  • Ngưng thuốc lá, rượu bia, tránh môi trường ô nhiễm.

  • Tiêm vắc-xin phòng cúm và phế cầu hằng năm để giảm nguy cơ nhiễm trùng.

  • Duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống giàu protein và vitamin để tăng sức đề kháng.

  • Tập thể dục hằng ngày để duy trì dung tích phổi.

Tiên lượng

Phần lớn bệnh nhân có thể sống ổn định nhiều năm nếu được theo dõi đều đặn và phòng biến chứng tốt. Tuy nhiên, những trường hợp xơ phổi lan tỏa hai bên có thể diễn tiến đến suy hô hấp mạn tính và tăng áp phổi, cần hỗ trợ oxy lâu dài.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

1. Xơ phổi sau lao có phải là lao tái phát không?

Không. Đây là di chứng của lao đã khỏi, vi khuẩn không còn hoạt động. Tuy nhiên, người từng bị xơ phổi vẫn có nguy cơ tái nhiễm lao mới, nên cần kiểm tra nếu có ho kéo dài.

2. Xơ phổi sau lao có chữa khỏi hoàn toàn không?

Không thể phục hồi mô phổi đã xơ, nhưng có thể kiểm soát triệu chứng và ngăn bệnh nặng thêm nhờ điều trị nội khoa và phục hồi chức năng.

3. Người bị xơ phổi sau lao có lây cho người khác không?

Không. Vì không còn vi khuẩn lao trong đờm, người bệnh không còn khả năng lây nhiễm.

4. Tập thể dục có tốt cho người bị xơ phổi không?

Có. Tập luyện nhẹ đều đặn giúp tăng dung tích phổi, cải thiện hô hấp và sức bền, nhưng cần tránh gắng sức quá mức.

5. Có cần dùng thuốc lao lại khi bị xơ phổi?

Không. Thuốc lao chỉ dùng khi có bằng chứng nhiễm lao hoạt động. Nếu chỉ còn tổn thương xơ, không cần điều trị lao lại.

KẾT LUẬN

Xơ phổi sau lao là hậu quả của quá trình viêm và sẹo hóa mô phổi sau điều trị lao. Dù không nguy hiểm tức thì, tình trạng này có thể gây khó thở mạn tính, giảm chất lượng sống và nguy cơ suy hô hấp nếu không được quản lý tốt.

Người bệnh cần theo dõi hô hấp định kỳ, tập thở, tránh nhiễm trùng tái phát và giữ lối sống lành mạnh để duy trì chức năng phổi lâu dài.

Để đặt lịch khám và theo dõi Xơ phổi sau lao tại DYM Medical Center, quý khách vui lòng liên hệ:

DYM MEDICAL CENTER SÀI GÒN: Phòng B101-103, Tầng hầm B1, Tòa nhà mPlaza Saigon, Số 39 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.

DYM MEDICAL CENTER PHÚ MỸ HƯNG: Phòng 3A01, Tầng 3A, Tòa nhà The Grace, Số 71 Đường Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, TP. Hồ Chí Minh.

DYM MEDICAL CENTER HÀ NỘI: Tầng hầm B1, Tòa nhà Epic Tower, Ngõ 19 Duy Tân, Phường Cầu Giấy, Hà Nội.

Hotline: 1900 2929 37

Liên hệ ngay với chúng tôi

Liên hệ với DYM để nhận hỗ trợ nhanh
chóng qua các kênh liên lạc của chúng tôi!

LIÊN HỆ

Đặt lịch khám ngay để
nhận ngay các ưu đãi

Đặt lịch khám